FIDES (VIETNAM) Phân tích thị trường 29/01 – 02/02/2024 

FIDES (VIETNAM) Phân tích thị trường 29/01 – 02/02/2024

Tổng Quan Thị Trường
Thay đổiKhối lượng giao dịchGiá trị giao dịchGiao dịch khối ngoại
(%)triệu cổ phiếu / Khối lượng giao dịch bình quântriệu USD /
giá trị giao dịch bình quân
triệu USD /
Tổng giá trị giao dịch
HSX-0,27%777,38736,76(0,54)
VN30-0,68%243,24273,19(24,56)
HNX0,49%69,0854,360,05
Upcom0,76%64,5744,7554,18

Nguồn: Fiinpro

Biến động ngành (HOSE, %)

Nguồn: Fiinpro

Top mua/bán ròng khối ngoại (HOSE & HNX, triệu USD)

Nguồn: Fiinpro

Tin tức thị trường hàng tuần

Kinh tế – Xã hội

Tin vĩ mô :

  • Tổng cục Thống kê công bố số liệu kinh tế tại ngày 24/01/2024 như sau:
    • CPI: tăng 3,37% so với cùng kỳ, tăng 0,31% so với tháng trước.
    • Xuất khẩu: 15,09 tỷ USD (tăng 4,06% so với cùng kỳ), Nhập khẩu: 14,70 tỷ USD (tăng 6,82% so với cùng kỳ), Thặng dư thương mại: 0,38 tỷ USD (Dữ liệu ngày 15/01/2024)
    • Doanh thu bán lẻ: 524,12 nghìn tỷ VND (21,31 tỷ USD), tăng 8,11% so với cùng kỳ, tăng 1,58% so với tháng trước.
    • IIP: tăng 18,26% so với cùng kỳ , giảm 4.36% so với tháng trước (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

FED :

  • Ngày 31/01/2024, FED công bố giữ nguyên lãi suất ở mức 5,25% – 5,5%.
  • FED phát đi tín hiệu đã hoàn tất việc tăng lãi suất, nhưng cơ quan này cũng nói rõ rằng họ chưa sẵn sàng bắt đầu cắt giảm lãi suất vào ngày 24/3. (Nguồn: FED).

Trung Quốc :

  • Ngày 29/01/2024, Evergrande chính thức bị tòa án Hồng Kông (Trung Quốc) ra phán quyết thanh lý sau khi gánh khoản nợ hàng trăm tỷ USD trong nhiều năm.
  • Theo đó, Evergrande tạm thời ngừng giao dịch trên sàn chứng khoán Hồng Kông sau khi có thông tin cho rằng cảnh sát đã giám sát chủ sở hữu của Tập đoàn Evergrande. (Nguồn: Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc)

FDI :

  • Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong tháng 1/2024, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký (bao gồm cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp) đạt hơn 2,36 tỷ USD (tăng 40,2% so với cùng kỳ). Trong đó, vốn từ Singapore đạt hơn 1,4 tỷ USD (tăng 72,8% so với cùng kỳ), dẫn đầu dòng vốn đầu tư vào Việt Nam. (Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Chỉ số PMI :

  • Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) của ngành sản xuất Việt Nam do S&P Global công bố đã quay trở lại mức trên 50 điểm trong tháng đầu năm, tăng lên 50,3 điểm từ mức 48,9 điểm vào ngày 23/12. Kết quả cho thấy sức khỏe của ngành sản xuất được cải thiện lần đầu tiên sau 5 tháng, tuy nhiên chỉ cải thiện nhẹ. (Nguồn: S&P Global)

Doanh Nghiệp – Ngành

Chứng khoán :

  • Tính đến ngày 31/12/2023, tổng vốn chủ sở hữu của các công ty chứng khoán ước tính lên tới 8,9 tỷ USD (tăng 1,9% so với quý trước và tăng 15,3% từ đầu năm đến nay). Dư nợ cho vay ký quỹ tại các công ty chứng khoán ước đạt khoảng 7 tỷ USD (tăng 8,2% so với quý trước và tăng 50% từ đầu năm đến nay).
  • Như vậy, “Tỷ lệ cho vay Margin/Vốn chủ sở hữu” vào cuối năm 2023 ước tính đạt xấp xỉ 80%. Đây là mức cao nhất trong vòng một năm qua nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với năm 2021 – đầu năm 2022. (Nguồn: Chính phủ)

Nông nghiệp :

  • Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong tháng 1 đạt 5,14 tỷ USD (tăng 79,2% so với cùng kỳ). Trong khi đó, giá trị nhập khẩu đạt 3,72 tỷ USD, dẫn đến thặng dư thương mại 1,43 tỷ USD, tăng hơn 4,6 lần so với cùng kỳ.
  • Cụ thể, doanh thu xuất khẩu lâm sản đạt 1,49 tỷ USD (tăng 72,5% so với cùng kỳ); thủy sản đạt 730 triệu USD (tăng 60,8% so với cùng kỳ); nông sản đạt 2,71 tỷ USD (tăng 93,8% so với cùng kỳ); và chăn nuôi đạt 36 triệu USD (tăng 3,5% so với cùng kỳ).
  • Giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tới các thị trường đều tăng. Cụ thể, Mỹ đạt 1,18 tỷ USD (tăng 93,6% so với cùng kỳ); Châu Phi đạt 104 triệu USD (tăng 185,4% so với cùng kỳ); Châu Á đạt 2,52 tỷ USD (tăng 86,3% so với cùng kỳ); Châu Âu đạt 532 triệu USD (tăng 38,2% so với cùng kỳ) và Châu Đại Dương đạt 78 triệu USD (tăng 100,9% so với cùng kỳ).
  • Trung Quốc chiếm 23% tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam, Mỹ đóng góp 20,8% và Nhật Bản chiếm 7,4%. (Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn).

HSG (CTCP Tập đoàn Hoa Sen)

  • Công bố doanh thu quý 1 năm 2024 đạt 394,4 triệu USD (tăng 15% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 4,2 triệu USD (so với khoản lỗ 27,6 triệu USD trong quý 1 năm 2023).
  • Biên lợi nhuận gộp phục hồi mạnh mẽ từ 2% trong quý 1 năm 2023 lên 11% trong quý 1 năm 2024. Chi phí tài chính giảm 56% so với cùng kỳ. Trong đó, chi phí lãi vay giảm 47% so với cùng kỳ nhờ HSG nỗ lực đàm phán với các ngân hàng để có được lãi suất vay tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh. (Nguồn: HSG)

VCI (CTCP Chứng khoán Vietcap)

  • VCI dự kiến ​​nhận hạn mức cho vay hợp vốn trị giá 34 triệu USD cùng với quyền chọn nâng hạn mức vay lên 100 triệu USD.
  • Giao dịch này sẽ được thu xếp bởi Ngân hàng SinoPac Co., Ltd và Bank of Kaohsiung – Chi nhánh Offshore. (Nguồn: VCI)

LTG (CTCP Tập đoàn Lộc Trời)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu thuần đạt 236,6 triệu USD (tăng 90% so với cùng kỳ). Giá vốn hàng bán đạt 174,7 triệu USD (tăng 84,5% so với cùng kỳ) và lợi nhuận gộp đạt 61,9 triệu USD (gấp đôi so với cùng kỳ). Lợi nhuận sau thuế đạt 10,1 triệu USD (tăng 19% so với cùng kỳ).
  • Năm 2023, doanh thu đạt 653,6 triệu USD (tăng 37,4% so với cùng kỳ). Lợi nhuận sau thuế đạt 10,8 triệu USD (giảm 35,6% yoy và chỉ đạt 64% kế hoạch năm). (Nguồn: LTG)

QNS (CTCP Đường Quảng Ngãi)

  • Doanh thu thuần quý 4 năm 2023 đạt 92,5 triệu USD (tăng 17% so với cùng kỳ) và lợi nhuận ròng đạt 26,6 triệu USD (tăng 53% so với cùng kỳ). Mảng đường tiếp tục là động lực tăng trưởng trong quý với doanh thu thuần đạt 37,1 triệu USD (tăng 74% so với cùng kỳ). Trong khi đó, doanh thu sữa đậu nành đạt 36,4 triệu USD (giảm 2% so với cùng kỳ).
  • Năm 2023, doanh thu thuần đạt 407,5 triệu USD (tăng 21% so với cùng kỳ) và lợi nhuận ròng đạt 89 triệu USD (tăng 70% so với cùng kỳ). (Nguồn: QNS).

HDB (Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh)

  • Quý 4 năm 2023, lợi nhuận trước thuế đạt 178,3 triệu USD (tăng 97,4% so với cùng kỳ). Kết quả kinh doanh khả quan của HDB có được nhờ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ, mang lại thu nhập lãi ròng là 199,9 triệu USD (tăng 91,2% so với cùng kỳ). Năm 2023, tín dụng tăng trưởng 30,1% so với cùng kỳ và huy động tăng trưởng 71,8% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế đạt 530 triệu USD (tăng 26,8% so với cùng kỳ).
  • Chất lượng tài sản xấu đi đôi chút với tỷ lệ nợ xấu tăng lên 1,79% (tăng 47 điểm cơ bản so với quý trước) trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng lên 65,8% (Quý 3 năm 23 là 54,2%). (Nguồn: HDB)

VJC (CTCP Hàng không VietJet)

  • VietJet vừa công bố tăng thêm gần 750 chuyến bay, tương đương 154.800 chỗ để phục vụ cao điểm Tết Nguyên đán. Các chuyến bay tăng chủ yếu phục vụ nhu cầu về quê ăn Tết và du lịch như TP.HCM đến Hà Nội, Thanh Hóa, Hải Phòng, Chu Lai, Tuy Hòa, Đà Nẵng, Huế, Quy Nhơn.
  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu thuần đạt 769,7 triệu USD (tăng 59% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 6,2 triệu USD (so với khoản lỗ ròng 96,6 triệu USD trong quý 4 năm 2022). Cụ thể, mảng vận tải hàng không ghi nhận doanh thu 109,7 triệu USD (tăng 106,64% so với cùng kỳ), doanh thu phụ trợ đạt 201,5 triệu USD (tăng 119,2% so với cùng kỳ) và doanh thu SLB là 221,3 triệu USD (giảm 8,3% so với cùng kỳ).
  • Năm 2023, doanh thu thuần đạt 2561 triệu USD (tăng 56% so với cùng kỳ) và lợi nhuận ròng là 14,1 triệu USD (so với khoản lỗ ròng 92,6 triệu USD vào năm 2022). VietJet đã khai thác an toàn 133 nghìn chuyến bay, vận chuyển 25,3 triệu lượt khách (không bao gồm VietJet Thái Lan), trong đó hơn 7,6 triệu lượt khách quốc tế (tăng 183% so với cùng kỳ). Tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển đạt 81,5 nghìn tấn (tăng 73% so với cùng kỳ). (Nguồn: VJC)

HVN (Tổng Công ty Hàng không Việt Nam – CTCP)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu thuần đạt 975,9 triệu USD (tăng 22,4% so với cùng kỳ) và lỗ ròng 81,2 triệu USD (so với mức lỗ ròng 105,9 triệu USD ở quý 4 năm 2022).
  • Năm 2023, doanh thu thuần đạt 3745,2 triệu USD (tăng 30% so với cùng kỳ) và cải thiện khoản lỗ ròng sau thuế lên 225,9 triệu USD từ khoản lỗ ròng 459,6 triệu USD của năm trước. (Nguồn: HVN)

DBD (CTCP Dược – Trang thiết bị Y tế Bình Định)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu thuần đạt 18,1 triệu USD (giảm 4% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 2,4 triệu (giảm 12% so với cùng kỳ).
  • Năm 2023, doanh thu thuần đạt 67 triệu USD (tăng 6% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 11 triệu USD (tăng 11% so với cùng kỳ). (Nguồn: DBD)

PAN (CTCP Tập đoàn Pan)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu thuần đạt 170,7 triệu USD (tăng 7,6% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 2,4 triệu USD (tăng 55% so với cùng kỳ). Điều này chủ yếu được thúc đẩy bởi lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là mảng nông dược với mức tăng trưởng 37%. Trong khi đó, doanh thu ở mảng bánh kẹo và hạt điều lại giảm nhẹ.
  • Năm 2023, doanh thu thuần đạt 537,1 triệu USD (giảm 3% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 33,32 triệu USD (tăng 3% so với cùng kỳ). (Nguồn: PAN)

FRT (CTCP Bán lẻ Kỹ thuật số FPT)

  • FRT công bố doanh thu quý 4 năm 2023 đạt 353,2 triệu USD (tăng 3% so với cùng kỳ) và lỗ trước thuế 3,94 triệu USD. Khoản lỗ này là do một số chi phí bất thường bao gồm thưởng hiệu quả hoạt động cho chuỗi Long Châu, chi phí đầu tư…. Trong năm 2023, doanh thu đạt 1,29 tỷ USD (tăng 6% so với cùng kỳ) và lỗ trước thuế 11,95 triệu USD. Tính đến 31/12/2023, FRT sở hữu 755 cửa hàng FPT Shop và 1.497 cửa hàng Long Châu.
  • FRT đã ký kết hợp tác chiến lược với IHH Healthcare Singapore. Công ty không tiết lộ thông tin chi tiết nhưng có thể trong những năm tới Long Châu sẽ mở rộng sang phòng khám/bệnh viện. Long Châu hiện đã có 27 trung tâm tiêm chủng tại Việt Nam. Các trung tâm tiêm chủng Long Châu tuy có doanh thu nhỏ nhưng tiềm năng của thị trường là rất lớn. (Nguồn: FRT)

HAH (CTCP Vận tải và Xếp dỡ Hải An)

  • HAH công bố doanh thu quý 4 năm 2023 là 27 triệu USD (giảm 21% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 2,56 triệu USD (giảm 63% so với cùng kỳ).
  • Doanh thu năm 2023 là 106,2 triệu USD (giảm 18% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 15,6 triệu USD (giảm 53% so với cùng kỳ).
  • Dự kiến ​​ngành vận tải container có thể chịu ít áp lực hơn về lợi nhuận (giảm khoảng 10-15% so với cùng kỳ), khi căng thẳng địa chính trị làm giảm áp lực giảm giá cước vận chuyển trong năm 2024. Nguồn cung đội tàu sẽ tăng trong năm nay do số lượng tàu mới được bàn giao dự kiến ​​chiếm 10,4% tổng nguồn cung đội tàu, cao nhất kể từ năm 2010. (Nguồn: HAH).

DIG (Tổng CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng)

  • DIG công bố doanh thu quý 4 năm 2023 là 17,6 triệu USD (tăng 11% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 2,7 triệu USD (gấp 25 lần so với cùng kỳ).
  • Doanh thu năm 2023 là 41,7 triệu USD (giảm 46,17% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 7 triệu USD (tăng 18% so với cùng kỳ).
  • Đáng chú ý, tổng dư nợ vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn, dài hạn giảm xuống còn 126,4 triệu USD (giảm 19% so với cùng kỳ), chủ yếu nhờ giảm dư nợ trái phiếu cho HDBank và vay dài hạn từ cá nhân khác. (Nguồn: DIG)

DCM (CTCP Phân bón Dầu khí Cà Mau)

  • DCM được Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Bình Định chấp thuận đầu tư Nhà máy Đạm Cà Mau – Chi nhánh Bình Định tại Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Nhà máy phân bón này tập trung sản xuất các sản phẩm NPK với công suất 50.000 tấn/năm.
  • Theo DCM, vốn đầu tư của nhà máy NPK này là hơn 4,8 triệu USD. Diện tích của dự án khoảng 3 ha. DCM dự kiến ​​sẽ đưa nhà máy này vào hoạt động trong quý 1 năm 2025. (Nguồn: DCM)

BFC (CTCP Phân bón Bình Điền)

  • BFC công bố doanh thu quý 4 năm 2023 đạt 90 triệu USD (tăng 16% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ đạt 1,45 triệu USD (tăng 50% so với cùng kỳ) do chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 22%, đạt 5,2 triệu USD. Trong cả năm 2023, doanh thu và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ của BFC lần lượt đạt 352 triệu USD và 6 triệu USD, tương đương năm 2022. Bất chấp gánh nặng lãi vay thấp hơn, chi phí bán hàng đã tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, khiến biên lợi nhuận hoạt động của BFC bị giảm. (Nguồn: BFC)

DBC (CTCP Tập đoàn Dabaco Việt Nam)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu thuần đạt 106,7 triệu USD (tăng 17,8% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 0,26 triệu USD (so với khoản lỗ ròng 9 triệu USD trong quý 4 năm 2022). Nguyên nhân chủ yếu là do (1) Chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi giảm, các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi đều có lãi và tăng trưởng so với năm trước, (2) Sự sụt giảm của mảng chăn nuôi lợn được bù đắp một phần bởi các ngành kinh doanh phụ như dầu thực vật tăng trưởng tốt và có lãi, (3) DBC ghi nhận thu nhập khác gần 0,65 triệu USD, chủ yếu nhờ thanh lý phế liệu, thu về 0,82 triệu USD.
  • Về việc triển khai vắc xin AFS DACOVAC-ASF2, Dabaco đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ và hoàn thiện những bước cuối cùng để chính thức đưa vắc xin ra thị trường trong thời gian sớm nhất.
  • Năm 2023, doanh thu thuần đạt 453,3 triệu USD (giảm 4% so với cùng kỳ), nổi bật là doanh thu bất động sản và xây dựng cao gấp 3,1 lần so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 1,02 triệu USD (gấp 3,8 lần so với cùng kỳ). (Nguồn: DBC) 

BAF (CTCP Nông nghiệp BAF Việt Nam)

  • Trong quý 4 năm 23, BAF ghi nhận doanh thu 66,3 triệu USD (giảm 25% so với cùng kỳ) và lỗ ròng 1,2 triệu USD (so với lợi nhuận 0,3 triệu USD trong quý 4 năm 2022). Biên lợi nhuận gộp giảm từ 2,89% xuống 2,54%. Nguyên nhân chủ yếu là do (1) Giá bán vẫn ở mức thấp (2) Nhu cầu tiêu dùng yếu (3) Sản lượng lợn bán ra không tăng tương ứng với quy mô đàn (4) Các trang trại mới cần thời gian cho lứa đầu tiên và sản lượng sẽ được ghi nhận vào năm 2024.
  • Năm 2023. doanh thu thuần đạt 214,2 triệu USD (giảm 26% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 0,9 triệu USD (giảm 92% so với cùng kỳ). (Nguồn: BAF)

MBB (Ngân hàng TMCP Quân Đội)

  • Hội đồng quản trị thông qua việc phát hành riêng lẻ 43 triệu cổ phiếu cho Tập đoàn Viettel và 30 triệu cổ phiếu cho SCIC. Giá: 15.959 đồng/cổ phiếu. Thời gian thực hiện trong quý 1 năm 2024 và hạn chế chuyển nhượng trong 5 năm. Sau giao dịch, MBB sẽ tăng vốn điều lệ từ 2,13 tỷ USD lên 2,16 tỷ USD, số tiền thu được sẽ bổ sung vốn lưu động của MBB. Mặt khác, Tập đoàn Viettel và SCIC sẽ nâng tỷ lệ sở hữu lần lượt lên 14,756% (từ 14,137%) và 9,862% (từ 9,425%). (Nguồn: MBB)

TNG (CTCP Đầu tư và Thương mại TNG)

  • Tháng 1 năm 2024, doanh thu đạt 21,3 triệu USD (tăng 31,7% so với cùng kỳ). Doanh thu tăng trưởng 31,7% một phần nhờ vào mức nền thấp của năm ngoái vì Tết Nguyên đán năm ngoái rơi vào tháng 1. Đây là doanh thu tháng 1 cao nhất trong 5 năm trở lại đây. Năm 2023, TNG ghi nhận doanh thu đạt 288,9 triệu USD (tăng 4,7% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 9,2 triệu USD (giảm 22,8% so với cùng kỳ) nhờ mở rộng tệp khách hàng trong bối cảnh môi trường kinh doanh gặp khó khăn do nhận được đơn đặt hàng thấp hơn, dẫn đến biên lợi nhuận gộp giảm từ 14,8% còn 13,8% và chi phí tài chính tăng 13,2%.
  • Ông Nguyễn Mạnh Linh (Thành viên HĐQT, con trai Chủ tịch) đăng ký bán 1,63 triệu cổ phiếu thông qua khớp lệnh và thỏa thuận từ ngày 31/01 đến ngày 28/02/2024. (Nguồn: TNG)

PTB (CTCP Phú Tài)

  • PTB công bố doanh thu quý 4 năm 2023 đạt 63,4 triệu USD (giảm 10,1% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 2,1 triệu USD (giảm 31,5% so với cùng kỳ).
  • Doanh thu năm 2023 đạt 230,3 triệu USD (giảm 18,4% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 12 triệu USD (giảm 40% so với cùng kỳ). Trong đó, mảng đá đạt 72,8 triệu USD (tăng 3,8% so với cùng kỳ), mảng gỗ đạt 114,1 triệu USD (giảm 17,7% so với cùng kỳ), mảng ô tô đạt 36 triệu USD (giảm 30% so với cùng kỳ), mảng bất động sản đạt 2,4 triệu USD (giảm 86% so với cùng kỳ). Mảng gỗ cốt lõi của PTB sụt giảm do khó khăn chung tại thị trường Mỹ và châu Âu khiến sản lượng xuất khẩu sụt giảm, ngoài ra thị trường bất động sản toàn cầu cũng trải qua đợt suy thoái nghiêm trọng. (Nguồn: PTB)

VRE (CTCP Vincom Retail)

  • VRE công bố doanh thu quý 4 năm 2023 là 96 triệu USD (tăng 9,6% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 43,7 triệu USD (tăng 28,3% so với cùng kỳ).
  • Doanh thu năm 2023 là 401,3 triệu USD (tăng 33% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 166 triệu USD (tăng 58,8% so với cùng kỳ).
  • Kết quả của VRE được hỗ trợ nhờ sự cải thiện trong thu nhập cho thuê và lượng đặt hàng lớn từ việc bán nhà phố. Tuy nhiên, số dư bên liên quan với VIC, VHM và Vinpeal đều tăng khiến dòng tiền của VRE trở nên đáng lo ngại. (Nguồn: VRE)

IDC (Tông Công ty IDICO – CTCP)

  • IDC công bố doanh thu quý 4 năm 2023 là 91,8 triệu USD (tăng 85% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 22,5 triệu USD (tăng 167% so với cùng kỳ).
  • Doanh thu năm 2023 là 296,6 triệu USD (giảm 3,3% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 57 triệu USD (giảm 21% so với cùng kỳ).
  • Lợi nhuận ròng chủ yếu đến từ mảng khu công nghiệp (một phần nhờ việc thay đổi phương pháp hạch toán doanh thu từ hằng năm sang một lần cho dự án mở rộng Phú Mỹ 2 và Quế Võ 2) và thu nhập lãi cao. (Nguồn: IDC)

MSN (CTCP Tập đoàn Masan)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu thuần đạt 851,4 triệu USD (tăng 0,7% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 21,2 triệu USD (giảm 36% so với cùng kỳ).
  • Năm 2023, doanh thu thuần đạt 3205,7 triệu USD (tăng 2,7% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 76,6 triệu USD (giảm 61% so với cùng kỳ). Thu nhập giảm mạnh trong năm 2023 do (1) Chi phí tài chính ròng tăng 51% so với cùng kỳ; (2) Lỗ từ hoạt động kinh doanh khai khoáng và kết quả kém của MML; (3) Lợi nhuận từ TCB giảm 11,2% so với cùng kỳ.
  • EBIT của mảng kinh doanh tiêu dùng cốt lõi của Masan tăng 40,1% trong năm 2023, chủ yếu nhờ MCH và WCM, trong đó:
    • MCH: doanh thu thuần 1190,7 triệu USD (tăng 3,4% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế tăng 30,5% so với cùng kỳ, nổi bật là biên lợi nhuận gộp đạt mức cao kỷ lục 44,9% trong 2023.
    • WCM: doanh thu 1231,2 triệu USD (tăng 2,3% so với cùng kỳ) trong năm 2023 nhờ tác động tích cực của việc mở cửa hàng mới và thành công trong việc nâng cấp mô hình cửa hàng. WCM đã mở mới 312 cửa hàng WinMart+ và nâng cấp tổng cộng 1.615 cửa hàng, chiếm 46% mạng lưới cửa hàng tiện lợi trong năm 2023. (Nguồn: MSN)

VNM (CTCP Sữa Việt Nam)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu đạt 640,3 triệu USD (tăng 3,6% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 96,3 triệu USD (tăng 25,8% so với cùng kỳ). Doanh thu thuần từ thị trường nội địa tăng 2,2% so với cùng kỳ trong khi doanh thu thuần xuất khẩu tăng mạnh 19,3% so với cùng kỳ. Biên lợi nhuận gộp đạt 41,2% trong quý 4 nhờ doanh thu tăng trưởng kết hợp với chi phí đầu vào thuận lợi.
  • Năm 2023, doanh thu đạt 2477,6 triệu USD (tăng 0,7% so với cùng kỳ, hoàn thành 95% kế hoạch năm) và lợi nhuận sau thuế đạt 369,5 triệu USD (tăng 5,2% so với cùng kỳ, hoàn thành 105% kế hoạch năm). (Nguồn: VNM)

DGW (CTCP Thế Giới Số)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu của DGW đạt 196 triệu USD (tăng 19% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ đạt 3,6 triệu USD (giảm 42% so với cùng kỳ). Nhìn chung, năm 2023, doanh thu của DGW đạt 760 triệu USD (giảm 14,7% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ đạt 14 triệu USD (giảm 48% so với cùng kỳ). Lợi nhuận sau thuế công ty mẹ năm 2023 giảm đáng kể do chi phí SG&A cao hơn (tăng 33% so với cùng kỳ), cụ thể là chi phí tiếp thị (tăng 30% so với cùng kỳ), chi trả cho người lao động (tăng 30% so với cùng kỳ) và dịch vụ ngoài (tăng 111,7% so với cùng kỳ). (Nguồn: DGW)

REE (CTCP Cơ Điện Lạnh)

  • REE báo cáo kết quả kinh doanh sụt giảm trong quý 4 năm 2023, doanh thu đạt 83 triệu USD (giảm 33% so với cùng kỳ), lợi nhuận sau thuế đạt 20 triệu USD (giảm 30% so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do (1) Mảng M&E & điện lạnh yếu kém và lỗ 0,3 triệu USD do dự phòng các khoản phải thu khó đòi và (2) REE không ghi nhận doanh thu dự án bất động sản Bò Xuyên trong quý 4. (Nguồn: REE)

MWG (CTCP Đầu tư Thế Giới Di Động)

  • Năm 2023, doanh thu đạt 4,77 tỷ USD (giảm 11% so với cùng kỳ, hoàn thành 88% kế hoạch năm). Chuỗi Thế Giới Di Động và Điện Máy Xanh ghi nhận doanh thu lần lượt hơn 1,13 tỷ USD (giảm 18% so với cùng kỳ) và 2,23 tỷ USD (giảm 20% so với cùng kỳ). Doanh thu Bách Hóa Xanh năm 2023 đạt 1,28 tỷ USD (tăng 17% so với cùng kỳ). Lợi nhuận sau thuế đạt 6,8 tỷ USD (giảm 96% so với cùng kỳ).
  • Đáng chú ý, MWG đã đóng cửa hơn 200 cửa hàng với nỗ lực nâng cao năng suất trong quý 4 năm 2023, do đó gây ra khoản chi phí thời gian khi tái cơ cấu khiến lợi nhuận sau thuế của MWG sụt giảm. (Nguồn: MWG)

BVH (Tập đoàn Bảo Việt)

  • Quý 4 năm 2023, tổng phí bảo hiểm thu trực tiếp đạt 459 triệu USD (tăng 0,32% so với cùng kỳ) và lợi nhuận trước thuế là 19,4 triệu USD (tăng 4,6% so với cùng kỳ). Năm 2023, tổng phí bảo hiểm thu trực tiếp là 1,7 tỷ USD (giảm 0,74% so với cùng kỳ) và lợi nhuận trước thuế là 87,9 triệu USD (tăng 7,44% so với cùng kỳ, hoàn thành mục tiêu 112%). Lợi nhuận trước thuế tăng mạnh chủ yếu nhờ thu nhập tài chính tăng 36,5% so với cùng kỳ trong khi mảng kinh doanh bảo hiểm ghi nhận khoản lỗ 101,4 triệu USD (lợi nhuận năm ngoái là 4,3 triệu USD). (Nguồn: BVH)

TLG (CTCP Tập đoàn Thiên Long)

  • Quý 4 năm 2023, doanh thu đạt 28 triệu USD (giảm 7% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 1,2 triệu USD (năm ngoái: lỗ 0,1 triệu USD). Sức mua phục hồi chậm ở cả thị trường trong nước (giảm 6% so với cùng kỳ) và thị trường xuất khẩu (giảm 9% so với cùng kỳ) đã kéo doanh thu giảm trong khi chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp giảm 14,5% so với cùng kỳ từ mức nền chi phí marketing cao năm ngoái là động lực chính thúc đẩy lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất lợi nhuận gộp cải thiện nhẹ từ 40% lên 42,9% có thể tăng tỷ trọng doanh thu nội địa. Năm 2023, doanh thu đạt 141 triệu USD (giảm 1,7% so với cùng kỳ, hoàn thành 86,5% mục tiêu) và lợi nhuận sau thuế là 14,5 triệu USD (giảm 11,2% so với cùng kỳ, hoàn thành 89% kế hoạch). Lợi nhuận sau thuế năm 2023 giảm do chi phí quản lý doanh nghiệp dành cho hoạt động phát triển sản phẩm mới tăng 8,6%. (Nguồn: TLG)

CEO (CTCP Tập đoàn C.E.O)

  • CEO công bố doanh thu quý 4 năm 2023 đạt 18,4 triệu USD (giảm 70% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 1,2 triệu USD (giảm 85% so với cùng kỳ). Tổng doanh thu năm 2023 là 56,9 triệu USD (giảm 45% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế là 4,85 triệu USD (giảm 62% so với cùng kỳ).
  • Kết quả kinh doanh của CEO sụt giảm trong bối cảnh thị trường bất động sản gặp khó khăn chung. Công ty không ghi nhận doanh số bán hàng cao trong nửa sau năm 2023 khi tập trung phát triển 02 dự án chính: Tổ hợp nghỉ dưỡng Sonasea Vân Đồn Harbor City và Green Hotel & Resort.
  • Sau đợt phát hành 257 triệu cổ phiếu vào ngày 23/9, dòng tiền của CEO được cải thiện rõ rệt. Theo đó, tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn dưới 3 tháng tăng mạnh lên hơn 43,4 triệu USD (tăng 227% từ đầu năm 2023), đầu tư ngắn hạn tăng lên 62,5 triệu USD (tăng 300% từ đầu năm 2023). (Nguồn: CEO)

KBC (Tổng Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc – CTCP)

  • KBC công bố doanh thu quý 4 năm 2023 đạt 44,6 triệu USD (so với khoản lỗ 13,8 triệu USD trong quý 4 năm 2022) và lợi nhuận sau thuế đạt 6,1 triệu USD (so với khoản lỗ 22,6 triệu USD trong quý 4 năm 2022). Tổng doanh thu năm 2023 là 230,4 triệu USD (tăng 494% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 90,5 triệu USD (tăng 41% so với cùng kỳ).
  • Kết quả này chủ yếu đến từ doanh thu từ cho thuê khu công nghiệp tăng, đồng thời không bị giảm trừ doanh thu do hàng bán bị trả lại, kéo âm doanh thu thuần như cùng kỳ. Trong quý 4 năm 2023, KBC đã giao 7 ha tại Quảng Châu (Bắc Giang) và 13 ha tại Khu công nghiệp Tân Phú Trung (HCM).
  • Nhờ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của KBC dương hơn 88,4 triệu USD (trong khi cùng kỳ âm hơn 49,6 triệu USD). Dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư cũng dương gần 13,8 triệu USD, chủ yếu do tiền thu hồi từ các khoản cho vay, bán lại công cụ nợ và thu hồi vốn đầu tư ở đơn vị khác. (Nguồn: KBC)

PGV (Tổng Công ty Phát điện 3 – CTCP)

  • PGV báo cáo kết quả kinh doanh quý 4 năm 2023 với doanh thu đạt 395 triệu USD (giảm 21% so với cùng kỳ), lợi nhuận sau thuế công ty mẹ đạt 3,3 triệu USD (giảm 89% so với cùng kỳ) chủ yếu do lỗ tỷ giá 32 triệu USD. Lũy kế 12 tháng đầu năm 2023, doanh thu đạt 1,85 tỷ USD (giảm 3,1% so với cùng kỳ), lợi nhuận sau thuế công ty mẹ ghi nhận 53,7 triệu USD (giảm 46% so với cùng kỳ). (Nguồn: PGV)

SAB (Tổng CTCP Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu thuần đạt 348,9 triệu USD (giảm 15% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 39,6 triệu USD (giảm 10% so với cùng kỳ). Biên lợi nhuận gộp tăng nhẹ lên 29%.
  • Năm 2023, doanh thu thuần đạt 1247,4 triệu USD (giảm 13% so với cùng kỳ và hoàn thành 76% kế hoạch năm) và lợi nhuận sau thuế đạt 174,2 triệu USD (giảm 23% so với cùng kỳ và hoàn thành 73% kế hoạch năm). Nguyên nhân chủ yếu là do: (1) Nhu cầu tiêu dùng yếu, (2) Cạnh tranh gay gắt trong ngành bia và (3) Việc thực hiện nghiêm Nghị định 100 về kiểm soát nồng độ cồn khi tham gia giao thông. (Nguồn: SAB)

IDI (CTCP Đầu tư và Phát triển Đa Quốc Gia – IDI)

  • Trong quý 4 năm 2023, doanh thu đạt 77,2 triệu USD (tăng 10% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế đạt 0,82 triệu USD (giảm 20% so với cùng kỳ).
  • Năm 2023, doanh thu đạt 295,9 triệu USD (giảm 9% so với cùng kỳ). Cụ thể, doanh thu bán hàng hoá, thành phẩm cá tra đạt 118,7 triệu USD (giảm 19% so với cùng kỳ); doanh thu bán bột cá và mỡ cá đạt 118,2 triệu USD (giảm 2% so với cùng kỳ); doanh thu từ thức ăn chăn nuôi đạt 56,2 triệu USD (tăng 2% so với cùng kỳ). Lợi nhuận sau thuế năm 2023 đạt 3,6 triệu USD (giảm 84% so với cùng kỳ và chỉ hoàn thành 47% kế hoạch năm). (Nguồn: IDI)